Thống kê truy cập
  • Đang online: 30
  • Hôm nay: 62
  • Trong tuần: 1145
  • Tất cả: 47155
Lượt xem: 128
Sản xuất nông sản vẫn còn thiếu sự định hướng

Từ cuối năm 2016, đầu năm 2017 đến nay, thị trường các sản phẩm nông nghiệp trong nước đã chứng kiến nhiều cuộc giải cứu một số sản phẩm nông sản như thanh long, dưa hấu, hành tím… và gần đây nhất là cuộc giải cứu thịt lợn. Đây là thực trạng đáng buồn chưa thể giải quyết trong nhiều năm qua và được coi là một trong những vấn đề “nhức nhối” nhất của ngành nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bài toán tìm đầu ra cho các sản phẩm nông sản dù đã được đặt ra rất nhiều lần nhưng  dường như vẫn chưa có câu trả lời chính xác.

     Giá lợn hơi giảm kỷ lục

Theo đó, nhằm đón đầu nhu cầu thu mua lợn hơi phục vụ cho Tết cổ truyền của Trung Quốc vào dịp cuối năm, người chăn nuôi trong nước đã tăng cường chăn nuôi lợn mỡ để xuất khẩu. Có thời điểm phía Trung Quốc tăng mạnh, giá lợn mỡ còn cao hơn lợn siêu nạc trong nước. Tuy nhiên cận Tết Nguyên đán 2017, giá lợn bất ngờ lao dốc. Cụ thể, vào thời điểm cận Tết (giữa tháng 1), giá lợn hơi tại Đồng Nai đã ở dưới giá thành 26.000-30.000 đồng/kg.

Trong tháng 3/2017, giá thu mua lợn hơi tại Đồng Nai, An Giang, Vĩnh Long đã giảm 2.000-3.000 đồng/kg so với thời điểm cận và sau Tết và tiếp tục giảm xuống mức thấp trong tháng 4. Đến cuối tháng 4 vừa qua, Chính phủ đã có cuộc họp khẩn với một số bộ, ngành để tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi heo. Với nguồn cung hiện khoảng 3,755 triệu tấn thịt, cả nước đang thừa 200.000 tấn thịt heo. Sau cuộc họp, hàng loạt bộ, ngành, đơn vị, các tổ chức xã hội... trong cả nước thực hiện “giải cứu” đàn heo. Sau nhiều ngày “giải cứu”, giá heo hơi đã tăng trở lại, tại Đồng Nai cho đến tuần đầu tháng 5, giá heo hơi đã tăng 2.000 - 4.000 đồng/kg so với cuối tháng trước, ở mức khoảng 24.000-26.000 đồng/kg. Sự kiện giải cứu đàn heo tuy mang lại hiệu quả ngay trong bối cảnh hiện nay, nhưng cho thấy sự bất cập trong phát triển nóng của ngành chăn nuôi và sự bấp bênh của nông sản Việt.

Giá chuối lao dốc

Trước đó, thời điểm giữa năm 2016, cũng ảnh hưởng bởi các thương lái Trung Quốc, giá chuối xuất khẩu ở Đồng Nai cũng có thời điểm lao dốc khi bất ngờ giảm mạnh. Nguyên nhân được cho là lượng hàng xuất sang Trung Quốc giảm mạnh do thị trường này ngừng mua. Trong khi đó, những sản phẩm đạt chất lượng để xuất khẩu sang một số nước lớn như Nhật Bản, Dubai lại không có nhiều.

Cùng với đó, giá chuối thời điểm đầu năm 2016 do thiếu hụt nên được đẩy lên cao, sang đến quý II, Trung Quốc cũng bước vào vụ thu hoạch nên lượng nhập khẩu từ Việt Nam giảm mạnh là nguyên nhân dẫn đến giá mặt hàng này lao dốc.

Dưa hấu tiếp tục “được mùa mất giá”

Thời gian gần đây, do thương lái Trung Quốc ngừng mua nên giá dưa hấu cũng bất ngờ giảm mạnh khi chỉ còn khoảng 1.000 đồng/kg. Giá rẻ cộng thêm việc không có người mua khiến nhiều người nông dân trồng ra nhưng không muốn thu hoạch.

Cùng với giá dưa hấu, giá ớt cũng giảm giá mạnh khiến nông dân đứng ngồi không yên. Trước đó, thanh long, hành tím… cũng trở thành sản phẩm phải nhận sự “giải cứu” của cả nước.

Những vấn đề nêu trên cho thấy, sản xuất nông nghiệp ở nước ta đang còn bấp bênh, không ổn định và luôn bị tác động bởi nhiều yếu tố. Người nông dân vẫn phải đối mặt với tình trạng được mùa mất giá và sau mỗi một đợt giải cứu câu hỏi được người nông dân hỏi nhiều nhất là sẽ tiếp tục “trồng cây gì, nuôi con gì, bán cho ai” để không phải rơi vào tình trạng giải cứu nữa. Bởi việc giải cứu chỉ giúp bà con trong ngắn hạn, chỉ là giải pháp tạm thời nhằm giảm thiệt hại trước mắt cho nông dân, chứ không phải giải pháp bền vững. Điều này cho thấy rõ ràng người nông dân đang hoàn toàn thụ động trong việc tiêu thụ nông sản, vẫn trồng và nuôi theo tâm lý mạnh ai nấy làm.

Bên cạnh đó, trong nhiều năm qua, chúng ta vẫn phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc bởi đây là thị trường khá dễ tính, không yêu cầu, đòi hỏi cao nên thuận lợi, phù hợp với thói quen sản xuất lâu nay của  nông dân Việt Nam. Tuy nhiên, phần nhiều nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc lại theo đường tiểu ngạch nên diễn ra tình trạng các thương lái Trung Quốc mua nông sản Việt Nam với giá cao trong một vài vụ mùa, rồi đột ngột ngừng mua vào những vụ sau là một trong những nguyên nhân của những cuộc khủng hoảng thừa của nông sản Việt.

Vì vậy, trong khi Chính phủ cùng các bộ, ngành đang ra tay giải cứu thì người dân phải tự cứu mình. Ngoài việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao thì rất cần sự liên kết giữa “4 nhà” để nâng cao năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh. Đồng thời, xây dựng thương hiệu nông sản Việt, kênh phân phối, chính sách quảng bá và hạn chế xuất thô qua khâu trung gian để nâng tầm hàng Việt là những cách giải cứu tối ưu nhất.

Tại thị trường trong nước, từ những cuộc giải cứu nông sản vừa qua, có thể nhận thấy sức tiêu thụ trên  thị trường nội địa vẫn rất lớn nếu có kế hoạch tiêu thụ hợp. 

Một trong những giải pháp đối với ngành nông sản hiện nay là tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác xã, công ty liên doanh, xây dựng mô hình liên kết... Chỉ khi nào tổ chức được sản xuất nông nghiệp theo quy mô công nghiệp thì mới giải quyết được tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, nhưng lại ồ ạt chạy theo thị trường như hiện nay.

Câu chuyện giải cứu nông sản thời gian qua cần phải có giải pháp tổng thể, bắt đầu từ Nhà nước với việc phải định hướng nên trồng cây gì và nuôi con gì để đảm bảo được đầu ra, thay đổi quy trình sản xuất nông nghiệp. Cụ thể là cần đi vào chế biến sâu, nâng cao chất lượng, đặc biệt là cần có dự báo thị trường tốt hơn và quy hoạch sản xuất phù hợp… Về lâu dài cần phải nắm rõ thị trường để có định hướng đúng trong việc mở rộng diện tích nông sản xuất khẩu. Các nhà quản lý cũng cần tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ, giúp người dân tránh phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.

Bên cạnh đó, phải thay đổi quy trình sản xuất nông nghiệp từ khâu dự báo thị trường, quy hoạch đến sản xuất mới giải quyết được tình trạng dư thừa nông sản, phải tổ chức phát triển các hợp tác xã, tổ hợp tác trong sản xuất nông nghiệp tại các vùng nguyên liệu được quy hoạch. Cần có sự liên kết giữa các hộ nông dân, trang trại nhỏ lẻ thành hợp tác xã mới giải quyết được bài toán sản xuất manh mún, mới có thể đưa công nghệ sản xuất hiện đại, ký kết hợp tác doanh nghiệp chế biến, bán lẻ, xuất khẩu.

Cuối năm 2016, Bộ Công Thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thống nhất ký kết Bản ghi nhớ về tăng cường phối hợp công tác giữa hai Bộ để thúc đẩy sản xuất, tiêu thụ nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2016 – 2020. Nhằm triển khai thực hiện Bản ghi nhớ giữa hai Bộ, vừa qua Bộ Công Thương đã xây dựng Kế hoạch thực hiện Bản ghi nhớ về tăng cường phối hợp công tác giữa hai Bộ trong 6 tháng đầu năm 2017, theo đó các nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung triển khai đã bám sát theo 3 nhóm vấn đề chính trong chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản là đảm bảo nguồn hàng - phát triển thị trường - tổ chức xuất khẩu.

Đối với các giải pháp về phát triển sản xuất nông nghiệp và quản lý chất lượng sản phẩm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung triển khai các nhiệm vụ cụ thể là:

- Về lĩnh vực quy hoạch sản xuất:

+ Rà soát và triển khai thực hiện hiệu quả các Đề án tái cơ cấu của từng ngành trong khuôn khổ Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững; đặc biệt nhằm giảm giá thành sản xuất.

+ Tổ chức lại sản xuất một số mặt hàng chủ lực như lúa, gạo, trái cây, thủy sản… theo hướng gia tăng các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng của các thị trường cao cấp.

+ Tiến hành đánh giá ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết bất thường như hiện tượng El Nino, xâm ngập mặn, hạn hán sâu để có biện pháp cải tiến giống phù hợp, cân đối nguồn cung phục vụ xuất khẩu...

+ Nghiên cứu, tổ chức các mô hình liên kết giữa người trồng rừng với người chế biến gỗ, giữa người cung ứng nguyên liệu với người trồng rừng và chế biến, giữa người chế biến với người chế biến để giải quyết bài toán thiếu nguyên liệu hiện nay;  sớm hình thành các Trung tâm giao dịch gỗ nguyên liệu trong nước để hạn chế dần gỗ nguyên liệu nhập khẩu.

- Về lĩnh vực quản lý chất lượng sản phẩm:

+ Tăng cường tập huấn cho các hộ nông dân sản xuất, nuôi trồng, chế biến về các mô hình thực hành sản xuất tốt (GlobalGAP, VietGAP…) để thu được sản phẩm sạch, chất lượng cao cho xuất khẩu.

+ Có kế hoạch tiếp cận và áp dụng thực nghiệm các mô hình nuôi, trồng tiến tiến, hướng đến sản xuất nguyên liệu nông thủy sản bền vững và hạ giá thành sản xuất, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm.

+ Tổ chức chương trình nâng cao nhận thức về Chương trình nông sản sạch (không hóa chất, không kháng sinh) cho người nuôi trồng, cơ sở sơ chế - chế biến theo hướng phân cấp cho địa phương phối hợp thực hiện để có nguồn nguyên liệu nông sản đảm bảo chất lượng phục vụ xuất khẩu.

Theo đánh giá, một trong những vấn đề quan trọng nhất của các cơ quan quản lý hiện nay là nâng cao chất lượng nông sản bởi các vùng trồng nông sản theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc Global G.A.P đều vừa tiêu thụ được trong nước vừa có thể xuất khẩu. Tuy giá thành sản xuất sẽ cao hơn nhưng sẽ loại bỏ được chất cấm, kháng sinh, thịt bị bơm nước… Hiện nông sản Việt Nam đa dạng về chủng loại, có nguồn cung dồi dào nhưng giá trị xuất khẩu không cao vì chủ yếu xuất bán dạng thô, ít hàng chế biến có giá trị gia tăng cao. Vì vậy, chúng ta nên tập trung xây dựng khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch để hỗ trợ tiêu thụ và giúp sản xuất nông nghiệp mang tính bền vững hơn. Bởi khi xảy ra tình trạng nông sản khó tiêu thụ thì ngành chế biến nước ta vẫn chưa phát huy hiệu quả. Do đó, các cấp, ngành phải xem xét lại điều này, cần đưa việc xây dựng khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch nông sản trở thành một trong những giải pháp chính để hỗ trợ tiêu thụ và giúp sản xuất nông nghiệp mang tính bền vững hơn. 

Nguồn: Trung tâm Thông tin Công nghiệp

và Thương mại - Bộ Công Thương